Kính gửi Quý khách hàng, Quý đối tác cùng toàn thể CBCNV Công ty Văn Cao lịch nghỉ lễ Quốc Khánh 2-9 của Công ty. Xin kính chúc anh chị em có kỳ nghỉ lễ vui vẻ bên gia đình và người thân.
FF
CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VĂN CAO - CHUYÊN KINH DOANH CUNG CẤP CÁC LOẠI HÓA CHẤT CÔNG NGHIỆP
CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VĂN CAO - CHUYÊN KINH DOANH CUNG CẤP CÁC LOẠI HÓA CHẤT CÔNG NGHIỆP
CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VĂN CAO - CHUYÊN KINH DOANH CUNG CẤP CÁC LOẠI HÓA CHẤT CÔNG NGHIỆP
CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VĂN CAO - CHUYÊN KINH DOANH CUNG CẤP CÁC LOẠI HÓA CHẤT CÔNG NGHIỆP
CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VĂN CAO - CHUYÊN KINH DOANH CUNG CẤP CÁC LOẠI HÓA CHẤT CÔNG NGHIỆP
Kính gửi Quý khách hàng, Quý đối tác cùng toàn thể CBCNV Công ty Văn Cao lịch nghỉ lễ Quốc Khánh 2-9 của Công ty. Xin kính chúc anh chị em có kỳ nghỉ lễ vui vẻ bên gia đình và người thân.
Hóa chất công nghiệp giấy bao gồm một lượng lớn các loại hóa chất khác nhau. Giấy là một loại vật liệu mỏng được tạo ra bằng cách ép các sợi ẩm của cellulose bột giấy có nguồn gốc từ gỗ hoặc cỏ và làm khô chúng thành các tấm dẻo. Loại vật liệu đa năng với nhiều công dụng như viết, in ấn, đóng gói, làm sạch, trang trí. Bên cạnh đó còn ứng dụng trong một số quy trình công nghiệp và xây dựng.
Khoảng 200 hóa chất công nghiệp giấy riêng lẻ được sử dụng đáp ứng một nhu cầu cụ thể.
Có khoảng 3000 loại hóa chất khác nhau có thể được sử dụng trong sản xuất giấy. Trong thực tế chỉ có khoảng 200 hóa chất công nghiệp giấy riêng lẻ được sử dụng đáp ứng một nhu cầu cụ thể. Năm 2010, trong ngành công nghiệp giấy thế giới sử dụng 31,7 triệu tấn bột màu và sơn phủ. Đó là khoảng 8% giấy trên cơ sở trọng lượng. Bài viết này sẽ tổng hợp 7 loại hóa chất được sử dụng nhiều nhất trong ngành công nghiệp sản xuất giấy.
Sưu tầm
CÔNG TY TNHH TMDV VĂN CAO
Các loại xúc tác trong công nghiệp hóa chất.
Tùy theo trạng thái của các thành phần trong phản ứng mà người ta chia các phản ứng xúc tác ra làm xúc tác đồng thể và xúc tác dị thể. Một loại xúc tác đặc biệt khác đó là xúc tác men. Xúc tác men có thể là xúc tác đồng thể hoặc dị thể. Xúc tác đồng thể thường gặp là xúc tác axit – base. Ngoài ra còn có xúc tác nucleofil, xúc tác electrofil, xúc tác bằng phức kim loại chuyển tiếp hoặc ion của nó…
Xúc tác đồng thể là xúc tác trong đó chất xúc tác ở cùng pha với chất phản ứng.
Một số ví dụ về xúc tác đồng thể như: pha khí,pha lỏng.
Phản ứng trong dung dịch đặc biệt đối với hợp chất hữu cơ được xúc tác bằng axit, base rất nhiều. Ðó là phản ứng có sự tham gia của nước, alcohol, amin. Các phản ứng có đặc trưng axit như thủy phân, alcohol hóa, amonia hóa, những phản ứng có sự tham gia của nhóm cacbonyl như andehyt, axit hữu cơ và dẫn xuất của chúng.
Phản ứng mà tốc độ nó tăng lên do tác dụng chính chất phản ứng, có thể là chất đầu hoặc sản phẩm, gọi là phản ứng tự xúc tác. Phản ứng thủy phân este hóa, axít hữu cơ và rượu, phản ứng tự cảm ứng. Ví dụ:
Đây là phản ứng xúc tác axít.
Loại men (ferments, enzymes) cùng được làm chất xúc tác (xúc tác sinh hóa).Men là chất xúc tác có nguồn gốc protein, nghĩa là những phân tử được cấu tạo từ amin axit và có cấu trúc không gian xác định của mạch polypeptit. Tác dụng xúc tác là nhờ các quá trình lên men. Ðó là những quá trình trong đó xảy ra sự thay đổi thành phần hóa học các chất gây ra do kết quả hoạt động của những vi sinh vật nào đó, ví dụ men rượu, nấm hoặc vi khuẩn. Trong những trường hợp này những chất men do vi sinh vật tạo ra là những yếu tố hoạt động xúc tác. chất men vẫn giữ được tính hoạt động và khả năng tác dụng của nó khi lấy nó ra khỏi vi sinh vật.
Xúc tác dị thể là xúc tác trong đó chất xúc tác ở khác pha với chất phản ứng.Chất xúc tác dị thể thường là chất rắn và phản ứng xảy ra trên bề mặt chất xúc tác. Thường gặp nhất là những hệ xúc tác dị thể gồm pha rắn và pha khí (các chất tham gia phản ứng và sản phẩm phản ứng).
Ðặc điểm của phản ứng xúc tác dị thể là phản ứng diễn ra nhiều giai đoạn, có hai đặc trưng:
– Trung tâm hoạt động của chất xúc tác là tập hợp của một số xác định của các trung tâm hấp phụ được phân bố trên bề mặt phù hợp với cấu tạo hình học của những phân tử bị chuyển hóa.
– Có sự hình thành của những phức đa vị khi hấp phụ những phân tử phản ứng trên những trung tâm hoạt động. Kết quả này dẫn đến sự phân bố lại các liên kết, đưa đến hình thành sản phẩm phản ứng.
Việc khảo sát một số lý thuyết về xúc tác cho thấy lý thuyết về xúc tác dị thể chưa có sự thống nhất về quan điểm ngay cả những vấn đề cơ bản. Các thuyết trên mới có tính chất định hướng chỉ đối với một số phản ứng.
Sưu tầm
CÔNG TY TNHH TMDV VĂN CAO
Xúc tác là nền tảng của công nghiệp hóa chất
Chất xúc tác là những chất có thể làm thay đổi tốc độ của phản ứng hoá học. Nhưng chất xúc tác lại không hề thay đổi gì (về chất cũng như lượng) sau khi phản ứng hoá học đã xảy ra.
Quá trình xúc tác là quá trình làm thay đổi tốc độ của một phản ứng hóa học của một hay nhiều chất phản ứng. Nhờ vào sự tham gia của một chất thêm vào gọi là chất xúc tác. Không giống các chất phản ứng khác trong phản ứng hóa học, một chất xúc tác không bị mất đi trong quá trình phản ứng. Với một chất xúc tác, cần ít năng lượng giải phóng hơn để đạt được trạng thái trung gian. Nhưng tổng năng lượng giải phóng từ chất phản ứng sang chất tạo thành không đổi, có thể tăng tốc độ phản ứng hoá học lên nhiều lần, hàng chục lần, hàng trăm lần, nên rút ngắn được thời gian, tăng cao hiệu suất sản xuất. Chất xúc tác sinh học (hay còn gọi là Enzym) là protein đẩy nhanh tốc độ phản ứng hóa học.
Sưu tầm
CÔNG TY TNHH TMDV VĂN CAO
Những phát minh công nghệ hóa học đã làm thay đổi toàn bộ cuộc sống của con người và trở nên không thể thiếu. Không phải ngẫu nhiên mà sự khởi đầu của Cách mạng Công nghiệp lần thứ nhất trùng với sự khởi đầu của ngành công nghiệp hóa chất vào nửa cuối thế kỷ 18. Từ đó đến nay, trong mọi lĩnh vực kỹ thuật và đời sống, ở đâu cũng có thể thấy dấu ấn của Công nghiệp hóa chất, các vật liệu xây dựng: xi măng, gốm sứ, sắt thép; Năng lượng: xăng, dầu, nguồn điện hóa học, năng lượng tái tạo; Các mặt hàng tiêu dùng như sơn, nhựa, cao su, mực in, dệt nhuộm; Các sản phẩm phục vụ nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc… Ngoài ra, có rất nhiều ngành công nghiệp ứng dụng công nghệ hóa học công nghệ cao như điện tử: chế tạo vi mạch, màn hình LED, OLED, công nghệ nano; Công nghiệp thực phẩm: thực phẩm chức năng, phụ gia thực phẩm; Công nghệ y dược: xét nghiệm, phát triển thuốc, vắc xin…
Cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam đã có những bước chuyển mình đáng kể. Chủng loại, cơ cấu sản phẩm ngày càng đa dạng, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu trong nước trong một số lĩnh vực (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, săm lốp, sơn thông dụng, sản phẩm tẩy rửa) và cung cấp nguyên liệu đầu vào cho nhiều ngành công nghiệp khác.
Hầu hết các dự án trong 10 năm trở lại đây như các tổ hợp hoá dầu Nghi Sơn, Long Sơn, Hyosung, khí công nghiệp Airliquid, Messer, săm lốp ô tô Brigestone, Sailoon, Kumho, các nhà máy phân bón, hoá chất thuộc PVN, Vinachem, TKV đều sử dụng công nghệ tiên tiến, tương đương với trình độ khu vực và thế giới.
Nhiều doanh nghiệp lâu năm cũng đã chú trọng tìm kiếm những giải pháp kỹ thuật, cách thức sản xuất mới và thu được những hiệu quả rõ rệt. Công ty cổ phần Sơn Nishu đã tiến hành thay thế công thức sản phẩm, đầu tư mới thiết bị, giảm thiểu các yếu tố khó phân hủy trong môi trường. Công ty cổ phần Hóa chất cơ bản Miền Nam và Công ty cổ phần Hóa chất Việt Trì đã ứng dụng công nghệ điện phân xút-clo màng trao đổi ion. Công ty cổ phần Cao su Đà Nẵng, Công ty cổ phần Cao su Miền Nam đã đầu tư và đưa nhà máy lốp xe tải radial và đặc biệt, tổ chức sản xuất loại lốp ô tô đặc chủng cho xe siêu tải trọng, loại sản phẩm này có giá trị sản xuất công nghiệp cao, tiềm năng khai thác ở thị trường trong nước và xuất khẩu rất lớn. Công ty cổ phần Supe phốt phát và Hóa chất Lâm Thao đã triển khai công trình chuyển đổi công nghệ sản xuất axit sunphuric từ tiếp xúc đơn, hấp thụ một lần sang công nghệ tiếp xúc kép, hấp thụ hai lần… Các Công ty đã khẳng định được lợi nhiều mặt khi áp dụng công nghệ mới, hiện đại, thiết bị tiên tiến, điều khiển tự động, không những hiệu quả sản xuất tăng, định mức tiêu hao nguyên liệu giảm, mà các yếu tố an toàn, bảo vệ môi trường cũng được nâng cao.
Tuy nhiên, cần thừa nhận, trong bức tranh tổng thể ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam, vẫn còn nhiều mảng màu chưa sáng. Ngành mới chủ yếu cung cấp được một số sản phẩm thông dụng, chưa sản xuất được các sản phẩm hóa chất có yêu cầu kỹ thuật cao, chưa có nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao, nhiều loại nguyên liệu và sản phẩm hóa chất còn phụ thuộc vào nhập khẩu. Còn nhiều cơ sở nhỏ lẻ, lạc hậu, chưa chú trọng đến lĩnh vực nghiên cứu khoa học, cải tiến công nghệ, sản phẩm kém tính cạnh tranh. Còn để xảy ra tình trạng ô nhiễm, mất an toàn dẫn đến tâm lý e ngại, không chào đón tại một số địa phương và cộng đồng dân cư.
Một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội được đặt ra trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII là phát triển một số ngành công nghiệp nền tảng như công nghiệp năng lượng, cơ khí chế tạo, luyện kim, hóa chất, phân bón, vật liệu. Điều này một lần nữa tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của ngành công nghiệp hóa chất trong nền kinh tế quốc dân, và sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với ngành này.
Nói tới phát triển công nghiệp hóa chất là nói đến sự kết hợp hài hòa giữa phát triển nhanh và bền vững, giữa phát triển theo hướng hiện đại và tăng trưởng xanh. Tại Dự thảo Chiến lược phát triển ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040 mà Bộ Công Thương đang trình Chính phủ, có thể thấy rõ nét những định hướng phát triển ngành theo cả chiều rộng và chiều sâu. Một mặt, xây dựng ngành công nghiệp hoá chất theo hướng hiện đại với cơ cấu tương đối hoàn chỉnh, bao gồm sản xuất tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, phục vụ cho nhiều ngành công nghiệp khác; đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu; hình thành chuỗi giá trị, tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất ngành công nghiệp Việt Nam và khu vực. Mặt khác, ứng dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, hướng tới tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn.
Hiện nay, kinh tế tuần hoàn là một xu hướng tất yếu đối với sự phát triển chung của tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế, xã hội; đặc biệt là lĩnh vực chế biến, chế tạo. Và ngành công nghiệp hóa chất chính là yếu tố không thể thiếu để thực thi một nền kinh tế tuần hoàn. Ông Lê Quốc Khánh - Chủ tịch Hội Hóa học Việt Nam cho rằng công nghiệp hóa chất đã và sẽ là ngành giao thoa của các yêu cầu về nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên không tái tạo, tăng khả năng khai thác, phát triển, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên tái tạo (kể cả chất thải) để đồng thời giải quyết những xung đột về phát triển và môi trường và xã hội trong những xu thế hiện đại và văn minh hóa ở tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Còn theo ông Patrick Haverman- Phó Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, “Bằng cách áp dụng các mô hình kinh doanh bền vững và kinh tế tuần hoàn, các doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị theo 4 khía cạnh chính: Tạo doanh thu, nâng cao thương hiệu, tiết kiệm chi phí, giảm thiểu rủi ro”.
Đây là lý do mà phát triển các tổ hợp hoá chất tập trung, trung tâm logistics về hoá chất được coi là giải pháp đột phá trong Chiến lược phát triển ngành. Các khu công nghiệp hoá chất tập trung sẽ thu hút các dự án sản xuất hóa chất và các dự án sử dụng hóa chất để sản xuất trong các lĩnh vực công nghiệp khác. Các sản phẩm và chất thải của nhà máy này trở thành nguyên liệu của nhà máy khác trong tổ hợp, giảm chi phí và tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp, đồng thời nhờ đó hình thành được mô hình kinh tế tuần hoàn, tạo ra chuỗi giá trị gia tăng trong toàn ngành. Các Khu công nghiệp hóa chất tập trung được định hướng xây dựng tại các địa điểm vị trí địa - kinh tế, chính trị thuận lợi, có lợi thế về nguồn nguyên liệu, cung cấp đầy đủ cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, dịch vụ cho người lao động, dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa…, có hệ thống quản lý, giám sát để đảm bảo các yêu cầu về an toàn, môi trường. Nhiều quốc gia phát triển tại châu Âu và tại các châu lục khác (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ…) đã rất thành công với mô hình này.
Việc hình thành các khu công nghiệp hoá chất tập trung sẽ góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tạo động lực cho phát triển công nghiệp hóa chất, hứa hẹn đem lại diện mạo mới cho ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam về một ngành công nghiệp xanh và hiện đại. Hiện nay, bước đầu đã có 5 địa phương là Quảng Ngãi, Thanh Hóa, Bà Rịa - Vũng Tàu, Ninh Thuận và Bình Thuận rất ủng hộ, và chủ trương thu hút xây dựng các khu công nghiệp hoá chất tập trung tại địa phương. Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ tích cực phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tham mưu, đề xuất xây dựng khung khổ pháp luật, xây dựng các chính sách hỗ trợ đủ mạnh làm tiền đề cho ngành công nghiệp hóa chất phát triển thành ngành công nghiệp nền tảng hiện đại./.
- Hệ thống máy nén khí: làm nhiệm vụ thổi keo nhựa ép chặt định hình khuôn vào khuôn máy sản xuất ly nhựa. Thông thường, một nhà máy sản xuất sữa quy mô vừa sẽ trang bị khoảng 4 – 5 máy nén không khí công suất 100HP để đảm bảo phục vụ tốt nhất yêu cầu công việc.
- Hệ thống máy làm lạnh nước water chiller: được dùng để làm mát cho khuôn ly, tránh nguy cơ khuôn bị nóng lên quá nhiều do truyền nhiệt. Nhờ khả năng giải nhiệt tốt cho khuôn, nước mát được cung cấp bởi chiller giúp chúng ta rút ngắn thời gian chờ đợi để làm mát khuôn, giúp khuôn không bị dính, cho năng suất làm việc cao hơn và đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra.
Bia là loại đồ uống có độ cồn thấp, được sản xuất từ việc lên men dịch đường ở nhiệt độ thấp,... Quy trình sản xuất bia phải trải qua nhiều giai đoạn và đều cần được làm lạnh thì mới đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra. Đối với nhà máy sản xuất bia hiện đại, máy làm lạnh nước chiller chính là thiết bị không thể thiếu. Thiết bị tham gia vào những khâu sau:
Làm lạnh nhanh dịch đường sau khi nấu: dịch đường khi nấu xong có nhiệt độ khoảng 80ºC, cần phải hạ xuống nhiệt độ lên men là khoảng 6 - 8ºC trong vòng 30 – 45 phút. Nếu làm lạnh chậm thì một số chủng vi sinh vật có hại sẽ nhanh chóng phát triển, làm giảm chất lượng bia. Và để làm lạnh dịch đường từ 80ºC xuống còn 20ºC, người ta thường sử dụng nước được cung cấp bởi water chiller. Sau đó, nhà máy sản xuất bia tiếp tục sử dụng glycol có nhiệt độ khoảng -8ºC để hạ nhiệt độ dịch đường từ 20ºC xuống còn 8ºC.
Lên men bia: ứng dụng của máy làm lạnh nước công nghiệp trong sản xuất bia chính là giảm nhiệt lượng tỏa ra của quá trình lên men bia (chuyển hóa dịch đường houblon thành bia dưới tác động của nấm men). Vì nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình lên men bia và chất lượng sản phẩm nên các doanh nghiệp sản xuất bia đều cần phải sử dụng nước lạnh ở mức thích hợp để đảm bảo nhiệt độ phù hợp trong công đoạn này.
Bảo quản và nhân men giống: men giống sẽ được bảo quản trong các thùng chứa đặc biệt ở nhiệt độ thấp. Và máy làm lạnh nước chiller cũng đóng vai trò rất quan trọng trong khâu này.
Làm lạnh CO2: trong quá trình lên men, nhờ hiện tượng thủy phân mà các thùng chứa lên men sinh ra rất nhiều khí CO2. Đây là loại khí có vai trò rất quan trọng đối với công nghiệp sản xuất bia, được sử dụng trong khâu chiết rót và xử lý công nghệ ở thùng chứa lên men. Vì vậy, khí CO2 thoát ra từ thùng chứa len men trong các quá trình sinh hóa đều cần được thu hồi, bảo quản để sử dụng ở các công đoạn khác. Và CO2 được bảo quản tốt nhất ở thể lỏng, nhiệt độ bảo quản xuống rất thấp, chỉ khoảng -30 đến -35ºC. Vì vậy, chúng ta không thể không sử dụng máy làm lạnh nước công nghiệp trong công đoạn này.
Làm lạnh nước 1ºC: nước được sử dụng để làm lạnh nhanh dịch đường sau khi được nấu. Việc sử dụng nước lạnh để hạ nhiệt độ dịch đường nhanh chóng sẽ giúp các doanh nghiệp không cần phải thiết lập một hệ thống lạnh lớn nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu của công nghiệp sản xuất bia.
Làm lạnh hầm bảo quản thùng lên men và điều hoà: trong một số nhà máy sản xuất bia công nghệ cũ, bia được bảo quản lạnh trong các hầm làm lạnh và chúng ta cần sử dụng máy làm lạnh nước để phục vụ công việc này. Ngoài ra, thiết bị cũng được sử dụng để điều hòa không khí trong một số khu vực nhất định của nhà máy bia.
Ứng dụng của máy làm lạnh nước trong công nghiệp sản xuất đồ uống đã giúp quá trình sản xuất, lưu trữ và sử dụng sữa, bia, nước ngọt,... đảm bảo năng suất và chất lượng cao nhất.
Sưu tầm
Bia là sản phẩm thực phẩm thuộc loại đồ uống độ cồn thấp, thu nhận được bằng cách lên men rượu ở nhiệt độ thấp dịch đường (từ gạo, ngô, tiểu mạch, đại mạch vv…), nước và hoa húp lông. Qui trình công nghệ sản xuất bia trải qua nhiều giai đoạn cần phải tiến hành làm lạnh mới đảm bảo yêu cầu.
Đối với nhà máy sản xuất bia hiện đại, lạnh được sử dụng ở các khâu cụ thể như sau:
– Dùng nước 1oC hạ nhiệt độ dịch đường từ 80oC xuống khoảng 20oC.
– Sử dụng glycol (hoặc nước muối) có nhiệt độ thấp khoảng -8oC để hạ nhiệt độ dịch đường từ 20oC xuống 8oC. Kỹ thuật lạnh hiện đại sử dụng glycol để làm lạnh vì nước muối gây ăn mòn hư hỏng thiết bị điện.
Như vậy trong quá trình hạ nhiệt này đòi hỏi phải sử dụng một lượng lạnh khá lớn. Tính trung bình đối với một nhà máy bia công suất 50 triệu lít/năm mỗi ngày phải nấu khoảng 180m3 dịch đường. Lượng lạnh dùng để hạ nhiệt rất lớn.
Quá trình lên men bia được thực hiện ở một phạm vi nhiệt độ nhất định khoảng 6đến8oC. Quá trình lên men là giai đoạn quyết định để chuyển hoá dịch đường houblon hoá thành bia dưới tác động của nấm men thông qua hoạt động sống của chúng. Trong quá trình lên men dung dịch toả ra một lượng nhiệt lớn.
Quá trình lên men đường houblon hoá diễn ra qua hai giai đoạn:
Nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình lên men và chất lượng sản phẩm. Khi nhiệt độ cao sẽ dẫn đến các tác động như sau:
Mỗi loại nấm men đều có nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển lên men. Khi không đảm bảo các yêu cầu về nhiệt độ các kết quả nhận được chất lượng sẽ rất kém.
Trong quá trình lên men nhờ các quá trình thuỷ phân mà trong các tank lên men sinh ra rất nhiều khí CO2. Quá trình phát sinh khí CO2 thể hiện ở phản ứng dưới đây.
Ứng dụng của hệ thống lạnh trong sản xuất bia, nước ngọt giúp quá trình sản xuất, lưu trữ, bảo quản và sử dụng được đảm bảo an toàn vệ sinh và tính ổn định.
Sưu tầm

Sưu tầm.
Hóa chất Văn Cao cần tuyển 02 nhân viên kế toán.
1.Mô tả công việc:
a.Kế toán thuế
2.Quyền lợi được hưởng:
- Lương từ 10tr- 12tr ( Kế toán tổng hợp)
- Lương từ 7tr- 9tr (Kế toán thuế)
3.Yêu cầu công việc:
* Thử việc 02 tháng.
4.Hồ sơ bao gồm:
* Hồ sơ bao gồm (bộ photo):
– Đơn xin việc
– Sơ yếu lý lịch
– Văn bằng, chứng chỉ liên quan
– Hộ khẩu & CMND
– Ảnh màu 3×4 (4 ảnh)
5.Thông tin liên hệ:
Người liên hệ:
- Mr Khôi: 0903 735 753
- Ms Phương; ĐT: 0917.618.728; 08 3831 1160;
Địa chỉ công ty: 160/7 Đường Phan Huy Ích, Phường 12, Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh

Cyclohexanone viết tắt là CYC, là một dung môi có mùi giống với acetone, có thể bay hơi trung bình khá, hòa tan tốt trong chất hữu cơ nên được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho việc điều chế các chất khác. Theo thời gian, CYC sẽ chuyển sang màu vàng.
Công thức phân tử của Cyclohexanone là C6H100.
Cyclohexanone được sản xuất bằng 2 phương pháp chính:
Dung môi Cyclohexanone được tạo ra nhờ oxy hóa Cyclohexanol, có chất xúc tác là Crom Trioxide hoặc có thể thay thế bằng Natri Hypochlorite.
Cyclohexanone được tạo ra bằng cách oxy hóa Cyclohexane trong không khí, chất xúc tác là coban hoặc được tạo ra từ một phần hydro hóa của phenol. Phương trình hóa học là:
C6H12 + O2 → (CH2)5CO + H2O
C6H5OH + 2H2 → (CH2)5OH
Cyclohexanone đóng vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp cũng như những lĩnh vực khác. Cụ thể như:
Trong quá trình sử dụng Cyclohexanone nếu gặp phải những trường hợp sau thì:
Cyclohexanone là một hợp chất dung môi rất dễ cháy, vì thế trong quá trình sử dụng hạn chế gần các khu vực có lửa, bắt lửa nhanh.
Hợp chất này không gây ung thư, mức độ độc hại vừa phải, là một chất có gây kích thích. So với các hợp chất hóa học khác, Cyclohexanone có thể nói đây là hợp chất an toàn cho con người.
Bảo quản Cyclohexanone ở những nơi thoáng mát, có nhiệt độ thấp, tránh xa khu vực có nguồn điện, nguồn lửa.
Đậy nắp kín sau khi sử dụng để tránh thất thoát do bay hơi.
CÔNG TY TNHH TMDV VĂN CAO
Sưu tầm
Dệt nhuộm là một trong những ngành công nghiệp nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đây cũng chính là một trong những lĩnh vực đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần không nhỏ vào ngân sách nước nhà. Bên cạnh đó, công nghiệp dệt nhuộm cũng đã giải quyết vấn đề việc làm cho phần lớn lao động.
Chính vì lý do này, ngành công nghiệp này vô cùng phát triển, từ đó, nhiều sản phẩm được tung ra nhằm phục vụ cho lĩnh vực này. Trong đó có các loại hóa chất dệt may.
Hóa chất dệt nhuộm Các loại hóa chất ngành dệt may phổ biếnĐây là khái niệm dùng để chỉ một nhóm gồm các hóa chất vô cơ có công dụng chủ yếu là dùng để nhuộm cũng như hoàn thiện quy trình dệt may. Các loại hóa chất ngành dệt may phổ biến nhất bao gồm:
Trong số những sản phẩm kể trên, có 5 sản phẩm hóa chất dệt nhuộm phổ biến được ứng dụng nhiều nhất tại các cơ sở dệt may. Đó là những sản phẩm nào? Cùng tìm hiểu nhé!
Hóa chất dệt nhuộm Các loại hóa chất ngành dệt may phổ biếnĐể phục vụ cho nhu cầu của số lượng lớn các cơ sở dệt may, các loại hóa chất nhuộm vải cũng được đa dạng hóa dần theo thời gian. Tùy theo mục đích sử dụng mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn sản phẩm phù hợp nhất. Dưới đây chính là những cái tên được áp dụng phổ biến nhất vào các công đoạn trong quy trình dệt nhuộm.
Đó chính là 5 loại hóa chất nhuộm vải được sử dụng phổ biến nhất ở nước ta hiện nay. Mặc dù đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp dệt, đây lại là những hóa chất độc hại có thể gây tổn thương đến sức khỏe của người sử dụng. Vì thế, hãy lưu ý kĩ những khuyến cáo an toàn khi tiếp xúc với các hóa chất nhuộm màu này mà không gây ảnh hưởng đến bản thân và mọi người xung quanh nhé.
CÔNG TY TNHH TMDV VĂN CAO
Sưu tầm